ThanhCongLon.comThành Công Lớn
Buổi đầu của những công ty lớn

Google buổi đầu: từ dự án BackRub ở Stanford đến công ty trong ga-ra năm 1998

Larry Page và Sergey Brin làm công cụ tìm kiếm BackRub ở Stanford từ năm 1996, xếp hạng trang theo liên kết. Năm 1998 lập Google trong ga-ra thuê, suýt bán đi năm 1999.

University dormitory room crowded with stacked computer towers and loose cables on metal shelves, a student seen from behind adjusting wires, cool blue light, wide angle

Google bắt nguồn từ BackRub, công cụ tìm kiếm mà Larry Page và Sergey Brin, hai nghiên cứu sinh tiến sĩ ở Đại học Stanford, làm từ năm 1996. Ý tưởng chính là xếp hạng trang web theo số lượng và chất lượng các liên kết trỏ đến nó, sau này gọi là PageRank. Google được thành lập thành công ty tháng 9/1998, làm việc trong ga-ra và vài phòng thuê của một căn nhà ở Menlo Park, California.

Câu chuyện Google thường được kể như sự đi lên thẳng tắp của một thuật toán giỏi. Nhìn lại buổi đầu, có hai điều ít được nhắc: các nhà sáng lập từng muốn bán công nghệ thay vì lập công ty, và trong vài năm đầu Google chưa có cách kiếm tiền rõ ràng. Bài này đi theo mốc, phân biệt chuyện đã được ghi nhận với giai thoại, và rút ra điều có thể áp vào doanh nghiệp nhỏ.

Một đề tài nghiên cứu, không phải một kế hoạch kinh doanh

Page bắt đầu nghiên cứu cấu trúc liên kết của web như một đề tài tiến sĩ: mỗi liên kết từ trang A tới trang B có thể coi như một lá phiếu tín nhiệm cho trang B, và lá phiếu từ trang được nhiều người tin thì nặng ký hơn. Ý tưởng này vay từ cách giới học thuật đánh giá bài báo qua số lần được trích dẫn. Brin tham gia, cùng xây hệ thống thu thập và xếp hạng trang. Dự án nằm trong chương trình thư viện số của Stanford, có kinh phí nghiên cứu công.

Năm 1998, hai người công bố bài báo khoa học mô tả kiến trúc của một công cụ tìm kiếm quy mô lớn trên web. Lúc đó, nhiều công cụ tìm kiếm phổ biến chủ yếu xếp hạng theo tần suất từ khoá trong trang, dễ bị thao túng và cho ra kết quả kém. Cách xếp hạng dựa trên liên kết cho kết quả tốt hơn rõ với nhiều truy vấn, và tiếng tốt về nó lan nhanh trong khuôn viên Stanford. Năm 1997, công cụ đổi tên thành Google, chơi chữ từ “googol”, tên của số 1 với một trăm chữ số 0 phía sau.

Dòng thời gian

Các mốc gọi vốn, ra mắt sản phẩm và lên sàn có trong hồ sơ công khai; chi tiết tấm séc là giai thoại có cơ sở, được chính người trong cuộc kể lại nhiều lần:

  • 1996: BackRub chạy trên máy chủ ở Stanford, dùng nhiều băng thông của trường.
  • 1997: đổi tên thành Google, đăng ký tên miền.
  • Đầu 1998: tìm cách bán hoặc cấp phép công nghệ cho các công ty tìm kiếm, cổng thông tin lớn thời đó; không thành.
  • Tháng 8/1998: Andy Bechtolsheim, một trong những người sáng lập Sun Microsystems, viết tấm séc 100.000 USD đứng tên “Google Inc.” trước khi công ty có tư cách pháp nhân.
  • Tháng 9/1998: lập công ty Google, thuê ga-ra và vài phòng trong căn nhà của Susan Wojcicki ở Menlo Park.
  • 1999: chuyển văn phòng; tháng 6 nhận khoản đầu tư 25 triệu USD từ hai quỹ Sequoia Capital và Kleiner Perkins.
  • Tháng 10/2000: ra mắt AdWords, hệ thống quảng cáo chữ gắn với từ khoá tìm kiếm.
  • 2004: lên sàn chứng khoán.

Suýt bán đi với giá dưới một triệu USD

Một chi tiết hay được kể là đầu năm 1999, Page và Brin đề nghị bán Google cho Excite, một công cụ tìm kiếm lớn thời đó. Theo lời kể của nhà đầu tư Vinod Khosla, người khi đó gắn với Excite, giá đề nghị được hạ xuống còn khoảng 750.000 USD mà Excite vẫn từ chối. Chuyện này được nhiều nguồn dẫn lại, nhưng chủ yếu dựa trên hồi ức của người trong cuộc nhiều năm sau, nên coi là giai thoại có cơ sở hơn là con số hợp đồng đã kiểm chứng.

Dù chính xác đến đâu, nó cho thấy một điều có thật: các nhà sáng lập Google ban đầu muốn quay về nghiên cứu, không có kế hoạch xây một tập đoàn. Và các công ty lớn khi đó không thấy giá trị trong một công cụ tìm kiếm tốt hơn, vì họ coi tìm kiếm chỉ là một tính năng trong cổng thông tin, không phải sản phẩm chính; họ muốn người dùng ở lại trang mình, còn công cụ tìm kiếm tốt lại đưa người dùng đi nhanh. Người dẫn đầu thị trường nhìn công nghệ mới qua mô hình kinh doanh đang có của mình.

Một trang chủ gần như trống

Cuối thập niên 1990, các công cụ tìm kiếm lớn đều muốn thành cổng thông tin: trang chủ chất đầy tin tức, thời tiết, thư điện tử, quảng cáo, để giữ người dùng ở lại càng lâu càng tốt. Google làm ngược lại: một trang gần như trống, một ô tìm kiếm, tải rất nhanh. Các nhà sáng lập về sau nói đùa rằng trang đơn giản một phần vì họ không có người làm giao diện; dù lý do là gì, kết quả là một sản phẩm khác hẳn đối thủ ở đúng điều người dùng cần: tìm nhanh rồi đi.

Google cũng gần như không quảng cáo cho chính mình trong những năm đầu. Người dùng biết đến nó qua lời giới thiệu: một người thử, thấy kết quả tốt hơn, kể cho người khác. Kiểu tăng trưởng này chậm lúc đầu nhưng bền, vì mỗi người dùng mới đến với một lý do thật.

Năm 2001, theo yêu cầu của các quỹ đầu tư muốn có người điều hành giàu kinh nghiệm, Eric Schmidt về làm tổng giám đốc điều hành, còn hai nhà sáng lập phụ trách sản phẩm và công nghệ. Báo chí thời đó gọi là “người lớn trông coi”. Chi tiết này nhắc rằng ngay ở công ty được kể như câu chuyện của hai nhà sáng lập trẻ, nhà đầu tư cũng có tiếng nói lớn về cách công ty được điều hành.

Mấy năm đầu chưa có cách kiếm tiền ổn định

Giai đoạn đầu, Google có sản phẩm được người dùng yêu thích nhưng chưa có mô hình doanh thu vững. Các hướng đã được thử theo các nguồn công khai:

Hướng kiếm tiềnDiễn biếnKết quả
Cấp phép công nghệ tìm kiếm cho cổng thông tinCung cấp kết quả tìm kiếm cho một số trang lớn, trong đó có Yahoo từ năm 2000Có doanh thu, uy tín, nhưng phụ thuộc đối tác
Bán thiết bị tìm kiếm cho doanh nghiệpThiết bị cài trong mạng nội bộ công ty, ra mắt từ năm 2002Doanh thu nhỏ
Quảng cáo chữ gắn với từ khoáAdWords ra mắt năm 2000, từ năm 2002 tính giá theo lượt nhấp và chất lượng quảng cáoTrở thành nguồn thu chính
Quảng cáo hình ảnh, cửa sổ bật lênCác nhà sáng lập không dùng vì làm chậm trang và khó chịu cho người dùngKhông áp dụng giai đoạn đầu

Mô hình đấu giá từ khoá theo lượt nhấp không phải phát minh gốc của Google; công ty GoTo.com, sau đổi tên Overture, đã làm trước. Overture kiện Google về bằng sáng chế, và vụ việc được dàn xếp năm 2004. Google thắng không phải vì nghĩ ra trước, mà vì kết hợp quảng cáo với lượng người dùng đã có và đo chất lượng quảng cáo, không chỉ giá trả.

Những điều không lặp lại được

Google có những lợi thế mà người kể chuyện ga-ra hay quên. Hai nhà sáng lập ở trong một trường đại học hàng đầu, có máy chủ, băng thông và kinh phí nghiên cứu của trường. Các giáo sư hướng dẫn giới thiệu họ với nhà đầu tư. Stanford giữ bằng sáng chế PageRank và cấp phép độc quyền cho Google, đổi lại nhận cổ phần. Thung lũng Silicon cuối thập niên 1990 dư thừa vốn mạo hiểm, khiến một công ty chưa có doanh thu vẫn gọi được hàng chục triệu USD.

Thời điểm cũng rất quan trọng. Google gọi vốn lớn giữa năm 1999, trước khi bong bóng dot-com vỡ năm 2000. Nếu muộn một năm, khoản 25 triệu USD có thể không đến. Trong khi đó, nhiều công cụ tìm kiếm khác cùng thời biến mất, không hẳn vì người làm kém mà vì không có những điều kiện đó. Câu chuyện thành công thường được viết như thể kết quả là tất yếu; nhìn từ năm 1998 thì không có gì tất yếu cả.

Đọc câu chuyện này, điều dễ chép nhất — làm việc trong ga-ra, không vội kiếm tiền — lại là điều ít liên quan nhất đến thành công. Điều khó chép — một công nghệ tốt hơn rõ rệt, một môi trường học thuật đỡ đầu, dòng vốn dồi dào đúng lúc — mới là phần quyết định.

Áp vào doanh nghiệp nhỏ

Sản phẩm tốt có thể đi trước mô hình kiếm tiền, nhưng không mãi. Google sống qua mấy năm chưa có doanh thu ổn định nhờ vốn đầu tư. Một cửa hàng nhỏ không có nhà đầu tư thì phải có doanh thu từ đầu. Ví dụ giả định: một tiệm sửa máy tính muốn làm phần mềm quản lý cho tiệm khác cần giữ mảng sửa chữa để nuôi mình.

Đo chất lượng, không chỉ đo tiền. AdWords xếp hạng quảng cáo theo cả giá và mức độ người dùng quan tâm. Với cửa hàng, khách quay lại và giới thiệu người khác là chỉ số chất lượng, không kém doanh thu tháng này.

Không làm điều khiến khách khó chịu dù có tiền ngay. Việc không dùng quảng cáo bật lên thời đầu giữ cho trang tìm kiếm nhanh và sạch, là lý do người dùng quay lại.

Cẩn thận với câu “cứ tập trung vào sản phẩm, tiền sẽ đến”. Câu này đúng với Google trong điều kiện vốn dồi dào cuối thập niên 1990; với phần lớn doanh nghiệp, tiền không tự đến.

Câu hỏi thường gặp

Google được thành lập năm nào?

Google được thành lập thành công ty tháng 9/1998 bởi Larry Page và Sergey Brin. Trước đó, từ năm 1996, công cụ tìm kiếm đã chạy ở Stanford dưới tên BackRub, và đổi tên thành Google năm 1997.

PageRank là gì?

PageRank là cách xếp hạng trang web dựa trên số lượng và chất lượng các liên kết trỏ đến trang đó, do Page và Brin phát triển ở Stanford. Đây chỉ là một trong nhiều tín hiệu Google dùng, và từ lâu không còn là yếu tố duy nhất trong cách xếp hạng.

Tên Google có nghĩa là gì?

Google chơi chữ từ “googol”, thuật ngữ toán học chỉ số 1 theo sau là một trăm chữ số 0. Tên gợi tham vọng sắp xếp một lượng thông tin khổng lồ trên web.

Google từng định bán mình không?

Theo nhiều nguồn, trong đó có hồi ức của nhà đầu tư Vinod Khosla, đầu năm 1999 các nhà sáng lập đề nghị bán Google cho Excite với giá dưới một triệu USD nhưng bị từ chối. Đây là lời kể nhiều năm sau, không phải tài liệu hợp đồng.

Google bắt đầu kiếm tiền từ khi nào?

Google có doanh thu từ cấp phép công nghệ tìm kiếm cho các trang khác, nhưng nguồn thu chính bắt đầu từ AdWords, ra mắt tháng 10/2000, và đặc biệt sau khi chuyển sang tính giá theo lượt nhấp năm 2002.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.